Côn Đảo xa mà gần

Đăng lúc: Thứ sáu - 08/07/2011 09:52 - Người đăng bài viết: Adminapm
Bình minh Côn Đảo.

Bình minh Côn Đảo.

Côn Đảo ngày nay không còn xa với Đất Mẹ. Nếu đi bằng tàu du lịch mang tên "Côn Đảo" to đẹp, đủ tiện nghi như khách sạn năm sao, từ đất liền ra chỉ mất trên hai giờ. Còn đi máy bay từ thành phố Hồ Chí Minh (ngày 4 chuyến) thì hết 45 phút. Nếu bay từ Thủ đô Hà Nội lại còn ít thời gian hơn. Từ trên máy bay nhìn xuống, Côn Đảo như "hòn ngọc" giữa biển trời thơ mộng.
Đến Côn Đảo là cuộc hành hương về "cõi tâm linh", bầy tỏ lòng biết ơn những tiên liệt mãi mãi nằm lại nơi "đầu sóng ngọn gió" để cho Côn Đảo hồi sinh, trở thành một Huyện Đảo với hơn 6.000 dân (ít hơn số tù nhân đã hi sinh trong thời kì thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược). Xuống sân bay Côn Đảo, dường như mọi lo toan thường ngày ở đô thị đã tan biến, chỉ còn lại không khí trong lành của thiên nhiên giữa nơi mà đất, biển và trời hòa quyện với nhau.

Từ khi thực dân Pháp thành lập nhà tù Côn Đảo đến ngày Côn Đảo hoàn toàn giải phóng (1862- 1975), trải qua 113 năm đen tối đọa đầy, với 53 chúa đảo, cùng bè lũ đao phủ, hành hạ dã man người tù, có 8.000 tù nhân, trong đó có 494 tù nhân nữ nằm lại tại Nghĩa trang Hàng Dương. Côn Đảo như một bản cáo trạng sống kết án chính sách xâm lược của bè lũ thực dân cũ và mới. Hệ thống nhà tù Côn Đảo qua 2 thời kì Pháp- Mỹ xây dựng 127 phòng giam, 44 xà lim, 504 phòng "biệt lập chuồng cọp". Bên cạnh đó còn có các sở tù đầy ải người tù làm lao dịch khổ sai, nhằm giết dần, giết mòn sinh mạng... Chuồng cọp tối tăm, ẩm thấp, chật chội, bên trên có song sắt kiên cố và hành lang ở giữa dành cho cai ngục, trật tự viên đi lại kiểm soát, hành hạ người tù bằng cách ném vôi bột sống, dội nước bẩn làm cho da người tù lở loét, hôi thối. Khu biệt lập "chuồng bò", với hầm phân bò sâu 3m, chia làm hai ngăn có hệ thống ngầm từ chuồng nuôi bò dẫn sang. Địch sử dụng hầm phân bò này để ngâm người tù, tra tấn dã man rồi bí mật thủ tiêu.

Tại khu trung tâm bãi biển chính của thị trấn Côn Đảo có "Cầu tầu lịch sử 914". Cầu được xây dựng từ năm 1873, là nơi chứng kiến nỗi cực nhục đầu tiên của những người tù bị đưa ra Côn Đảo. Nhiều người chỉ qua cầu có một lần rồi vĩnh viễn yên nghỉ tại Côn Đảo. Con số 914 người ngã xuống vì lao dịch, tai nạn trong quá trình khổ sai xây cầu đã được đặt tên cầu để muôn đời con cháu không quên một giai đoạn lịch sử đau thương, quật cường của Côn Đảo.

Bọn thực dân cũ và mới, bằng mọi thủ đoạn tra tấn người tù từ dã man kiểu Trung Cổ, đến "văn minh" hòng truy bức đến cùng ý chí đấu tranh, làm cho người tù chết dần, chết mòn về thể xác lẫn tinh thần. Tội ác tầy đình của đế quốc, thực dân cùng bè lũ tay sai, trời không dung, đất không tha.

"Uy vũ bất năng khuất". Các sĩ phu yêu nước và những người cộng sản bị cầm tù tại nhà tù Côn Đảo đã biến cái "địa ngục trần gian" có một không hai ấy thành trường học chính trị, văn hóa, trau dồi đạo đức cách mạng. Họ sống lạc quan, tin tưởng "Thân thể ở trong lao/ Tinh thần ở ngoài lao". Tại trại giam Phú Hải, trước cổng khu đập đá là bài thơ "Đập đá ở Côn Lôn" thể hiện chí làm trai của nhà chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh:

"Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn

Lừng lẫy làm cho lở núi non.

Xách búa đánh tan dăm, bảy đống

Ra tay đập bể mấy trăm hòn.

Tháng ngày bao quản thân thành sỏi

Mưa nắng càng bền dạ sắt son.

Những kẻ vá trời khi lỡ bước

Gian nan chi kể việc cỏn con".

Nghĩa trang Hàng Dương- Côn Đảo rộng 20ha, nơi yên nghỉ của gần 2.000 chiến sĩ cách mạng qua nhiều thế hệ tù đày trong suốt 113 năm dưới ách tàn bạo của đế quốc thực dân. Nghĩa trang Hàng Dương là một di tích căm thù, xây dựng hài hòa với cảnh trí thiên nhiên gây ấn tượng tưởng niệm sâu lắng. Mỗi nắm đất của nghĩa trang Hàng Dương là một dấu tích của bao sự kiện đấu tranh cách mạng:

Núi Côn Lôn được pha bằng máu

Đất Côn Lôn năm, sáu lớp

xương người

Mỗi bước chân che lấp một cuộc đời

Mỗi tảng đá là một trời đau khổ.

Nghĩa trang Hàng Dương vùi sâu

bao số phận

Hết lớp này, lớp khác dập lên trên

Mặt phẳng lì không mô đất nhô lên

Không bia mộ, không tên

và không tuổi.

Chúng tôi đã thắp những nét nhang tri ân lên những ngôi mộ có tên và không tên để bày tỏ tấm lòng khâm phục, biết ơn những chiền sĩ bỏ mình vì hạnh phúc con cháu hôm nay. Những tên tuổi Lê Hồng Phong, Nguyễn An Ninh, Võ Thị Sáu (mà bọn địch kính cẩn gọi là "Cô Sáu"), Cao Văn Ngọc, Lê Văn Việt và đồng đội của các anh, các chị sống mãi trong trái tim của chúng tôi.

Ngày 4-5-1975, đoàn tàu Hải quân ra giải phóng Côn Đảo, thì chính những người tù đã tự giải phóng trước đó 3 ngày và tổ chức tiếp quản các công sở của địch, bảo vệ đảo. Tại cầu tàu lịch sử 914, đồng chí Tường, cựu Chính ủy chỉ huy đoàn tàu ra giải phóng Côn Đảo năm xưa xúc động nói: "Chúng tôi, ai cũng rơi nước mắt, sung sướng vô ngần, các đồng chí ruột thịt của ta bị lưu đầy cầm giữ trong cái địa ngục trần gian khét tiếng này, đã vùng lên tự giải phóng. Các đồng chí đã thay chúng tôi hoàn thành một nhiệm vụ cực kì khó khăn do Bộ Chính trị giao".

Sau ngày đất nước thống nhất, nhiều tù nhân Côn Đảo đã tự nguyện ở lại xây dựng Côn Đảo. Côn Đảo mãi mãi là khu Di tích lịch sử Cách mạng vĩ đại, là trường học Cách mạng, một vùng đất hứa của Việt Nam dành cho mọi người hướng về, tìm đến để nhớ lại cội nguồn, giáo dục truyền thống Cách mạng cho tuổi trẻ.


Tác giả bài viết: Vũ An
Nguồn tin: Nguoicaotuoi.org.vn
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc